Cái nhìn

Ở gương mặt, người ta nhận ra nhau đầu tiên, rồi đánh giá, rồi yêu ghét, rồi ghi nhớ. Vì thế, gương mặt của chúng ta luôn luôn tìm cách – học cách, tạo ấn tượng thuận lợi nhất cho mình trong mắt người khác. Qua bao nhiêu ngày, cái thứ nói về mình nhiều nhất lại là thứ xa lạ với mình nhất, vì nó thuộc về người khác. Không mấy ai tự biết mình đẹp hay xấu, mà chỉ nghe người khác, tin người khác hơn chính mình về chuyện này. Rồi để cái nhìn của họ điều khiển mình, tự tương thích gương mặt theo ý thích, theo gương mẫu của cái nhìn, sao cho nó yêu mình càng nhiều càng tốt.

Mà cái nhìn của người khác, nó như thế nào? Từ lúc đồng tử của họ nhận lấy sóng hình ảnh từ một gương mặt người cho đến khi người ta đánh giá mức độ đẹp xấu hay dở của người ấy, thì hệ thống truyền tải thông tin trong mấy giây đó đã đi qua bao nhiêu lần rập khuôn, so sánh thông tin nhận được, với thông tin đã lưu trữ, nó gần với khuôn mẫu nào nhất thì tag nó với tag đó, rồi dùng tag đó mô tả gương mặt, mà những tag/tính từ đó không thể không là một phần của một bảng đánh giá.

Sự đánh giá theo khuôn có sẵn này giải thích tại sao phụ nữ được nhìn nhận là đẹp giống nhau đến như thế (phụ nữ lệ thuộc vào cái nhìn nhiều hơn đàn ông). Xã hội không những cho phép, mà còn gần như bắt buộc phụ nữ thích ứng, thay đổi, cải tạo để được yêu thích hơn, bằng cử chỉ, bằng trang điểm, ngay cả bằng phẩu thuật, cho giống với một hình ảnh lý tưởng, mà con số hình ảnh lý tưởng, thì rất hạn hẹp. Người ta quan sát thấy rằng phụ nữ càng chăm chú vào việc thích ứng gương mặt mình với một khuôn mẫu lý tưởng của số đông, thì chúng ta càng khó phân biệt giữa họ với nhau hơn. Tôi cho là nghề giám khảo thi hoa hậu Việt Nam là nghề khó nhất trên toàn cầu. Bạn ngồi đó, khoảng hai mươi cô gái đi qua trước mặt bạn, và bạn không thể phân biệt cô nào với cô nào, thì làm sao chấm điểm? Stress nghề nghiệp, biết sao.

 

Tôi không có gì chống lại một gương mặt đẹp. Nhưng nếu thế giới một ngày nào đó chỉ còn lại một đến năm gương mặt đẹp, thì làm sao?

Nếu có chánh niệm, người ta thấy một gương mặt, hay bất cứ thứ gì, như nó là chứ không phải như cái khuôn mẫu gần nhất có sẵn trong bộ nhớ của chúng ta về nó. Nhưng con người có quá ít thời gian cho quá nhiều thông tin phải xử lý, phán đoán hàng ngày, nên phải sử dụng, một cách tự động, hệ thống khuôn mẫu này. Lâu ngày, cùng với sự đồng tình của xã hội, cái nhìn, là một ngôn ngữ trực tiếp, đã trở thành một ngôn ngữ cũng gián tiếp như chữ nghĩa, là thứ cần đến một hệ thống ý nghĩa (và giá trị) được thỏa thuận trước với nhau bởi những người sử dụng. Điểm khác nhau là những thỏa thuận này, đối với chữ nghĩa, nằm trong ý thức trong khi đối với hình ảnh, nó nằm phần lớn trong vô thức. Vô thức là nơi chúng ta khó access vào database để thay đổi cập nhật được. Và vì vậy, cái nhìn thường mang nặng định kiến. Định kiến trong vô thức là thứ điều khiển chúng ta, chứ không phải ngược lại. Giới quảng cáo rất biến điều này, và họ đánh thẳng vào vô thức, để bán được hàng.

 

Một ngày, tôi thức dậy, và nhận thấy rằng hầu hết bạn bè người quen đều đã đi làm trong thế giới mà image là chính nếu không là tất cả. Phim, báo ảnh, thời trang, quảng cáo, thiết kế, kiến trúc, nhiếp ảnh, và dĩ nhiên, hội họa. Có lẽ vì không có gì tạo ảnh hưởng nhanh bằng hình ảnh nên ngành này cuốn hút nhiều người. Nói thật thì tôi mong chờ ở nhiếp ảnh và hội họa nhiều hơn, vì hai ngành này, nếu đúng, ít lệ thuộc vào cái nhìn của người khác nhất. Ít lệ thuộc vào cái nhìn, để mà phục vụ nó một cách bình đẳng chứ không ở vị trí nô lệ. Đó là điều kiện đầu tiên và thiết yếu của nghệ thuật.

Mà hình như nghệ thuật là thứ lạc lõng nhất trong thời này thì phải.

Leave a Reply

Your email address will not be published.


A note sounds. Then it sounds again. But everything has changed.

Paul Griffiths on Johann Sebastian Bach

March 2012
M T W T F S S
« Oct   Apr »
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Xin để lại địa chỉ email để được thông báo khi có bài mới: