Nhạc họa phim

Làm sao để vẽ một cái cây?

Nhiều hoạ sĩ trẻ quan niệm rằng sáng tạo là phải đột phá, đánh đổ, thách thức và mới lạ, rồi cứ loay hoay hoài vì làm không được. Quan niệm về sự mới lạ này không mới lạ, và thật ra những thứ đột phá chỉ là một phần nhỏ trong những gì sẽ tạo nên một nền nghệ thuật đương đại. Quan niệm này cũng dễ dẫn dụ người ta đi tìm một hình thức mới lạ thay vì ngồi im lắng nghe mình muốn nói gì, tức là nội dung. Trong rất nhiều trường hợp, nó chỉ dẫn đến bế tắc.

Ý của tôi thật bình thường (nên chỉ cần được trả hai xu, xin năm xu chắc chẳng ai chịu trả). Nó như thế này: nghệ thuật tạo hình quá lệ thuộc vào chất liệu và kỹ thuật, điều này dễ đưa người ta đến việc đặt tất cả vào hình thức (chữ tạo hình và hình thức gần như là đồng nghĩa rồi). Nhưng nếu có một điều mà người vẽ học được từ người làm thơ thì điều đó như thế này: nội dung của một bài thơ luôn luôn rộng và dài hơn tổng số những chữ viết nên bài thơ ấy. Cái gì làm nên chiều rộng, và chiều dài ấy?

Tôi không biết, và câu hỏi chắc cũng không ai có thể trả lời được hoàn toàn. Và hãy cứ để yên bí mật đó là một bí mật. Ở đây chúng ta tạm đồng ý gọi đó là cái hồn để có thể nói chuyện tiếp. Hồn thì chắc chắn là nằm bên trong, vì nếu nằm bên ngoài chúng ta đã gọi đó là da, hay tóc. Hồn nằm bên trong mình, hoặc là trong gió. Chỉ có hai nơi đó là có thể.

Tìm cách diễn đạt nó chỉ có thể là bước thứ hai. Bước đầu tiên là nghe thấy nó (bên trong hoặc là trong gió). Có thể có ai đó nói rằng nghe thấy cũng vẫn chưa phải là bước đầu tiên, bước đầu tiên phải là có nó hẵng. Ừ, đúng, nhưng mà giờ này mới bắt đầu ở nơi đó thì trễ mất rồi. Hãy mặc định là chúng ta có một cái hồn và công việc bắt đầu ở nơi lắng nghe nó.

“Nó như thế nào” chỉ có thể là “nó như thế nào trong giây phút này”. Một cái hồn trọn vẹn, xong xuôi và bất biến là không có đâu. Một thứ như vậy thì chỉ có thể là một khái niệm về nó, không phải nó.

Làm sao để nghe thấy hồn mình ngay trong giây phút này thì là chuyện riêng của bạn, tôi hứa không động chạm gì đến dù là khẽ đến đâu. Hãy cứ mãi hoài ở bên trong cuộc lắng nghe, dù là bao lâu (với tôi thì bước đầu tiên này là chuyện cả đời). Bao giờ bạn cảm thấy một sự thôi thúc gần như là không cưỡng được, phải đi tìm một cách nào đó để diễn đạt nó ra, thì bạn hãy làm vậy. Và đây cũng là chuyện riêng của bạn. Tôi sẽ im lìm biến mất ngay lập tức vì không giây phút cô đơn nào của bạn thiêng liêng hơn lúc này.

Chúng ta tìm cách diễn đạt thứ mình tìm thấy trong vài khoảnh khắc ngắn ngủi, nếu nó vẫn chưa đúng là cái đó thì chúng ta sẽ xoá đi và làm lại, cho đến khi nó nói được hoặc gần được điều bên trong hay trong gió. Lúc đó bạn chẳng phải lo gì cách diễn đạt của bạn có mới lạ hay không. Con người ta vừa giống nhau vừa riêng một cách kỳ lạ, nên chắc chắn là nó mới lạ. Dù bạn chỉ vẽ một cái cây là thứ người ta đã vẽ vài trăm triệu lần rồi, nó vẫn mới lạ nếu khi tìm cách diễn đạt, bạn vừa đủ nhuần nhuyễn trong kỹ thuật để có thể không bận tâm tới nó, vừa ngô nghê hoặc lãng trí đến nỗi bạn đã làm rớt mất hết mọi khái niệm một cái cây là như thế nào. Kể cả cái tên của nó bạn cũng đã lỡ quên mất.

Vì khái niệm của người ta thường giống nhau nên nếu dựa vào khái niệm, chúng ta không làm được cái gì mới cả. Chỉ có thể dựa vào khoảnh khắc. Dù nó mong manh, chúng ta chỉ có khoảnh khắc là tài sản của riêng mình.

Gerhard Richter

Ella, 2007

 

Aunt Marianne, 1965

 

I.G., 1972

 

Confrontation, 1988

 

Betty, 1991

 

Portrait of Brigid Pohl, 1971

 

Reader, 1994

 

Self-portrait, 1996

 

 

“Tôi không nghĩ là họa sĩ cần thấy hoặc là biết người ngồi mẫu. Một bức chân dung không phải diễn tả bất cứ điều gì về cái “hồn”, cái tinh túy hay tính cách của người mẫu. Họa sĩ cũng không phải “thấy” người mẫu trong một cái nhìn cá nhân, một cái nhìn đặc thù nào cả.”
Gerhard Richter

 

Richter đã 80 tuổi, sinh ra, lớn lên ở Dresden, trước thuộc về CHDC Đức. (Ai cũng biết rằng các nước XHCN đào tạo họa sĩ về mặt kỹ thuật tốt hơn ở các nước không cộng sản).
Như Degas, Richter cũng vẽ từ ảnh chụp. Tranh ông mới nhìn, giống như tranh hiện thực. Nhưng vài giây sau, ý thức của cái nhìn bắt đầu di chuyển. Giống như đồi cát nó như vậy nhưng khi ta đặt chân bước lên thì cát bắt đầu trôi đi. Trong tranh, khi cái nhìn chạm vào, hiện thực dường như phân ra nhiều tầng và bắt đầu trượt đi, tan rã vào khoảng không chung quanh.

Cái nhìn

Ở gương mặt, người ta nhận ra nhau đầu tiên, rồi đánh giá, rồi yêu ghét, rồi ghi nhớ. Vì thế, gương mặt của chúng ta luôn luôn tìm cách – học cách, tạo ấn tượng thuận lợi nhất cho mình trong mắt người khác. Qua bao nhiêu ngày, cái thứ nói về mình nhiều nhất lại là thứ xa lạ với mình nhất, vì nó thuộc về người khác. Không mấy ai tự biết mình đẹp hay xấu, mà chỉ nghe người khác, tin người khác hơn chính mình về chuyện này. Rồi để cái nhìn của họ điều khiển mình, tự tương thích gương mặt theo ý thích, theo gương mẫu của cái nhìn, sao cho nó yêu mình càng nhiều càng tốt.

Mà cái nhìn của người khác, nó như thế nào? Từ lúc đồng tử của họ nhận lấy sóng hình ảnh từ một gương mặt người cho đến khi người ta đánh giá mức độ đẹp xấu hay dở của người ấy, thì hệ thống truyền tải thông tin trong mấy giây đó đã đi qua bao nhiêu lần rập khuôn, so sánh thông tin nhận được, với thông tin đã lưu trữ, nó gần với khuôn mẫu nào nhất thì tag nó với tag đó, rồi dùng tag đó mô tả gương mặt, mà những tag/tính từ đó không thể không là một phần của một bảng đánh giá.

Sự đánh giá theo khuôn có sẵn này giải thích tại sao phụ nữ được nhìn nhận là đẹp giống nhau đến như thế (phụ nữ lệ thuộc vào cái nhìn nhiều hơn đàn ông). Xã hội không những cho phép, mà còn gần như bắt buộc phụ nữ thích ứng, thay đổi, cải tạo để được yêu thích hơn, bằng cử chỉ, bằng trang điểm, ngay cả bằng phẩu thuật, cho giống với một hình ảnh lý tưởng, mà con số hình ảnh lý tưởng, thì rất hạn hẹp. Người ta quan sát thấy rằng phụ nữ càng chăm chú vào việc thích ứng gương mặt mình với một khuôn mẫu lý tưởng của số đông, thì chúng ta càng khó phân biệt giữa họ với nhau hơn. Tôi cho là nghề giám khảo thi hoa hậu Việt Nam là nghề khó nhất trên toàn cầu. Bạn ngồi đó, khoảng hai mươi cô gái đi qua trước mặt bạn, và bạn không thể phân biệt cô nào với cô nào, thì làm sao chấm điểm? Stress nghề nghiệp, biết sao.

 

Tôi không có gì chống lại một gương mặt đẹp. Nhưng nếu thế giới một ngày nào đó chỉ còn lại một đến năm gương mặt đẹp, thì làm sao?

Nếu có chánh niệm, người ta thấy một gương mặt, hay bất cứ thứ gì, như nó là chứ không phải như cái khuôn mẫu gần nhất có sẵn trong bộ nhớ của chúng ta về nó. Nhưng con người có quá ít thời gian cho quá nhiều thông tin phải xử lý, phán đoán hàng ngày, nên phải sử dụng, một cách tự động, hệ thống khuôn mẫu này. Lâu ngày, cùng với sự đồng tình của xã hội, cái nhìn, là một ngôn ngữ trực tiếp, đã trở thành một ngôn ngữ cũng gián tiếp như chữ nghĩa, là thứ cần đến một hệ thống ý nghĩa (và giá trị) được thỏa thuận trước với nhau bởi những người sử dụng. Điểm khác nhau là những thỏa thuận này, đối với chữ nghĩa, nằm trong ý thức trong khi đối với hình ảnh, nó nằm phần lớn trong vô thức. Vô thức là nơi chúng ta khó access vào database để thay đổi cập nhật được. Và vì vậy, cái nhìn thường mang nặng định kiến. Định kiến trong vô thức là thứ điều khiển chúng ta, chứ không phải ngược lại. Giới quảng cáo rất biến điều này, và họ đánh thẳng vào vô thức, để bán được hàng.

 

Một ngày, tôi thức dậy, và nhận thấy rằng hầu hết bạn bè người quen đều đã đi làm trong thế giới mà image là chính nếu không là tất cả. Phim, báo ảnh, thời trang, quảng cáo, thiết kế, kiến trúc, nhiếp ảnh, và dĩ nhiên, hội họa. Có lẽ vì không có gì tạo ảnh hưởng nhanh bằng hình ảnh nên ngành này cuốn hút nhiều người. Nói thật thì tôi mong chờ ở nhiếp ảnh và hội họa nhiều hơn, vì hai ngành này, nếu đúng, ít lệ thuộc vào cái nhìn của người khác nhất. Ít lệ thuộc vào cái nhìn, để mà phục vụ nó một cách bình đẳng chứ không ở vị trí nô lệ. Đó là điều kiện đầu tiên và thiết yếu của nghệ thuật.

Mà hình như nghệ thuật là thứ lạc lõng nhất trong thời này thì phải.

Không biết đọc, không biết viết, không biết làm toán

Hai thứ cơ bản nhất mà một người, ít nhất là một người có học, phải biết đầu tiên là đọc viết và làm toán. Người ta có thể lầm trong mọi chuyện, nhưng không thể lầm về chuyện này. Đúng không?

Vậy mà hai người tôi nghĩ là lớn nhất từng sinh trên mặt đất này của chúng ta, là Tất Đạt Đa Cồ Đàm và Ludwig van Beethoven, một người thì không biết đọc viết, và một người thì không biết làm toán.

 

Không có ai kể lại rằng Phật đã đọc sách hay ghi chép gì. Thời ấy, văn bản chỉ được dùng cho các khế ước, hoặc khắc vào đá ở các đền, hẳn chỉ có một số rất ít người biết, khi họ làm một nghề nhất định, vì một lý do nhất định nào đó.

Mãi bốn thế kỷ sau khi Phật chết, kinh Phật mới được ghi lại lần đầu tiên, bằng tiếng Pali, chép lên lá bối đa khô, ở một xứ Phật chưa từng đi đến, là Tích Lan. Khi còn sống, Phật chỉ nói, chứ không viết những gì Phật muốn người khác hiểu. Người ta nghe, ghi nhớ, rồi đi nói lại cho người khác. Để mọi người không nhớ sai, thứ nhất các bài tạng được đặt ra để dễ học nằm lòng, và thứ hai, ai cũng biết là Phật rất yêu những con số. 4 sự thật về cái khổ, 8 con đường đúng, 12 duyên khởi, 5 ấn, 6 căn, vân vân. Cái gì quan trọng cũng được đánh số để khi kể lại người ta kể đúng thứ tự. Nếu có quên mất thứ gì, thì nhờ có đánh số họ biết mình còn thiếu; và kể đủ số rồi thì thôi, không được thêm vào điều gì nữa.

 

Với Beethoven những con số quá trừu tượng. Anh chỉ biết làm một ít tính cộng trừ, và chỉ chắc là đúng khi nào con số còn đếm được trên các ngón tay của mình. Trong các mẩu giấy ghi chép còn để lại, người ta thấy khi cần tính tiền phải trả 7 lần cho một món gì giá 8 Gulden, thì vì không biết làm toán nhân, anh chép 7 lần số 8 ra và lần lượt cộng chúng lại với nhau. Một lần, phải trả  11 lần nửa Gulden, anh chép 11 lần 1/2, và 1/2 là một con số rất khó đếm bằng các ngón tay. Kết quả cộng 11 lần 1/2 của Beethoven là 10,5. Thương không?

Không biết tính toán, Beethoven không biết mình giàu hay nghèo. Từ ngày bị điếc, Beethoven không đi dạy đàn piano được nữa và mất đi nguồn thu nhập tiền lẻ. Còn tiền chẳn? Là nhà soạn nhạc tự do, không có lương, anh sống nhờ vào trợ cấp của các nhà quí tộc yêu nhạc.  Gặp thời lạm phát, các công tước, hầu tước cũng hay quên. Anh càng ngày càng lo lắng. Anh chỉ biết lúc nào anh cũng cần nhiều tiền, vì anh yêu rượu và phụ nữ và cháu và thứ nào cũng tốn. Anh cũng không biết mình là người keo kiệt hay phung phí. Đây là cơn giận của Beethoven khi làm rớt mất một đồng xu (Kissin at the Prom):

Bài này nhiều nốt nhỉ.

Trong tiếng Đức, chữ Note nghĩa là nốt nhạc, cũng có nghĩa là tiền giấy (chữ Banknote viết ngắn đi). Trong khi đó, chữ Not có nghĩa là sự khó khăn cùng túng.

Beethoven có lần mua cổ phiếu. Trong một bức thư gửi cho kế toán trưởng ngân hàng, yêu cần gửi ngay cho anh tiền lời khi có, vì Beethoven rất cần tiền. Anh viết: “Und alle Noten, die ich mache, bringen mich nicht aus den Nöthen!!” (cách viết xưa có thêm chữ h)

(Và tất cả các nốt nhạc [cũng có thể hiểu là những tờ tiền giấy] mà tôi làm ra, chúng không kéo tôi ra khỏi những cơn túng bấn!!”)

Nghe

Nghe một bản nhạc, hay đến nỗi nó chạm đến biên giới của nơi sức người có thể chịu đựng được, thêm một chút nữa thì thôi tan nát hết. Người đã như là khói.

Vậy mà có bao nhiêu người nhất quyết không chịu nghe. Có phải vì cái đẹp thường chạm đến nỗi buồn? Cô đơn cũng buồn mà vinh quang cũng buồn

Tất cả các câu chuyện đều kể một câu chuyện

Thế giới có gần 7 ngàn triệu người đang sống, cộng với vô số lần hơn như vậy số người đã sống và đã chết. Là một hạt bụi trong lịch sử rộng và dài này, làm sao chúng ta có thể nói được một câu nào chưa có người từng đã nói?

Làm sao để sáng tạo?

Chúng ta viết một câu, ví dụ như: “Cái đẹp có thể thay đổi thế giới”; ví dụ như: “All you need is love.” Một câu lớn lao mà chúng ta nghĩ ra chứ không phải đọc được, nghĩ ra giữa cơn bất tỉnh trong sự nhỏ nhoi tuyệt đối chứ không phải trong niềm hưng phấn về một tài năng hay tầm vóc nào của mình. Câu ấy đúng. Câu ấy thật. Câu ấy đến từ sự chiêm nghiệm trên da thịt thật chúng ta đã trải qua. Chúng ta viết câu ấy ra.

Không ai buồn đọc cả. Vì sao?

Vì người ta đã nghe ai khác nói câu đó một ngàn lần rồi.
Vì một câu kết luận không phải là một bắt đầu, không gợi lên nên cũng không để lại thứ gì cả.

Chúng ta làm gì với câu đó bây giờ?

Sinh ra sau và giữa bao nhiêu là người, chúng ta còn có thể nói gì mà nó không phải là một sự lặp lại. Không muốn lặp lại, không lẽ số phận của chúng ta là chết đi trong im lìm?

Chúng ta vẫn có thể nói câu ấy, đúng từng chữ một, nói và lặp lại hai hoặc hai trăm hai mươi hai lần, mà vẫn có người nghe, nếu chúng ta nói bằng một cái tượng, một bức tranh, một bản nhạc hay một câu chuyện được kể bằng phim hay bằng chữ. Hoặc bằng cách mình sống. Và kể lại một nghìn lần vẫn không lặp lại. Chúng ta muốn nói về sự thật, nhưng sự thật không tên, không dáng và không màu, nên không tả được. Muốn người xem tranh nhìn thấy ánh sáng, chúng ta đặt một thứ gì đó trên đường đi của ánh sáng: mắt người chỉ nhìn thấy đồ vật được rọi sáng, chứ không thấy ánh sáng. Để nói về sự thật, chúng ta dựng nên không gian và thời gian, những con người, những tình huống được sự thật đó soi sáng, chứ không thể mô tả sự thật.

Chúng ta vẽ một bức tranh lớn bằng cả một bức tường, hoặc viết một cuốn tiều thuyết năm trăm trang, chỉ để viết một câu duy nhất chúng ta cần viết. Nhưng ở cuối chuyện, sau bao nhiêu ngày và đêm vô tận và vất vả, khi thời khắc đã đến để chúng ta có thể viết được câu kết luận, thì chúng ta lại thôi không viết. Tự do cuối cùng của người đọc, không lẽ chúng ta lại cướp đi hay sao?

Sự thật chỉ có một, nhưng những câu chuyện làm cho chúng ta cảm nhận – dù nắm lấy được trong tay hay chỉ nghe thoảng một mùi hương về sự thật – thì vô tận. Tất cả các câu chuyện chỉ kể một câu chuyện. Vì thế cho nên có nghệ thuật.


A note sounds. Then it sounds again. But everything has changed.

Paul Griffiths on Johann Sebastian Bach

April 2017
M T W T F S S
« Mar    
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

Xin để lại địa chỉ email để được thông báo khi có bài mới: